VI_TUONG_LAI
CHIA SẺ KIẾN THỨC - HỌC TẬP CÙNG NHAU - GIAO LƯU BỐN PHƯƠNG - GIÁO DỤC CON TRẺ !
Gốc > Bài viết Vì tương lai > Kĩ năng > Photoshop >

Chương 8: Painting Tool - Công cụ vẽ

Nội dung của trang này thuộc bản quyền của © Bá tước Monte Cristo và bantayden.com. Những bài viết trong này có thể được in ra để dùng với mục đích cá nhân. Nếu bạn muốn copy hoặc dùng lại trong trang web của bạn làm ơn liên lạc với tôi hoặc ít nhất phải trích dẫn lại nguồn là: Bá tước Monte Cristo và bantayden.com

1. Khái quát về Paint Bucket và lệnh Fill:

Đã đến lúc bạn nên biết về công cụ Painting và Erasing của PTS. PTS không phải là một ứng dụng vẽ thông thường như là Painter, nhưng Painting tool vẫn là một công cụ không thể thiếu được trong mọi thao tác bạn tiến hành trong PTS. Painting Tool không chỉ dùng để vẽ màu mà nó còn được sử dụng để tạo vùng lựa chọn, tạo Transparecny (tính trong suốt) và còn nhiều hơn thế nữa. Những công cụ mà chúng ta sẽ học trong chương này sẽ là Pencil, line, paintbrush, airbrush, eraser, paint bucket và Gradient. Chúng ta cũng sẽ bàn tới lệnh Edit > Fill và Pattern Fill.

Painting trong PTS là làm những thao tác như chọn công cụ vẽ, chọn bút vẽ (brush), đặt tuỳ biến và vẽ. Vì chọn công cụ vẽ là bước đầu tiên, cho nên chúng ta sẽ xem xét sự khác biệt giữa các công cụ.

Paint Bucket

Paint Bucket là một dạng đơn giản nhất của Painting tool. Nó dùng để to một vùng với một màu đặc hoặc Pattern. Paint Bucket làm việc gần giống như công cụ Magic Want bởi vì nó tô màu dựa trên những điểm tương đồng mà được xác định từ trước bởi tuỳ biến Tolerance khi bạn cài đặt trên thanh option bar. Trong PTS 6+, công cụ này cùng một chỗ với Gradient Tool và lệnh gõ tắt của nó là G. Shift-G thay đổi giữa Paint Bucket và Gradient.

Bằng cách nháy đúp vào biểu tượng Paint Bucket trong hộp công cụ bạn sẽ thấy tuỳ biến của nó. (trong PTS 7 hầu hết các tuỳ biến của bất cứ công cụ nào đều được hiển thị trên thanh option bar, do vậy nếu bạn đang dùng PTS 6, 7 bạn không cần nháy đúp mà chỉ cần nhìn vào thanh Option Bar). Trong Paint Bucket cũng có 2 tuỳ biến Blending Mode và Opacity, như trong Layer Palette. Điều này cho phép bạn thay đổi mức độ hoà trộn với từng đơn vị pixel trên cùng một layer. Cái này có đôi chút khác biệt với chế độ Blend mode của Layer Palette bởi vì Blend Mode trong Layer Palette thay đổi mức hoà trộn của từng đơn vị pixel với tất cả các layer nằm dưới nó, và Paint Blend Mode thay đổi mức hoà trộn giữa các đơn vị pixel trên cùng một layer. Chúng ta sẽ xem xét thêm về blend mode khi chúng ta làm các bài thực hành. Tôi muốn chỉ cho bạn thấy có thêm 2 chế độ Blend Mode nữa mà chỉ có ở một số Paiting Tool: Behind và Clear.

  • Painting trong chế độ Behind cho bạn kết quả tương tự với những gì bạn sẽ có được nếu bạn Paint trên một layer ở dưới một layer khác, nhưng thực tế những gì bạn vẽ lại áp dụng trên cùng một layer. Nơi mà những đơn vị pixel (ở đây nên hiểu là các pixel của file ảnh, những hình ảnh trên một layer được hiểu theo từng đơn vị pixel kết hợp với nhau) không hoàn toàn trong suốt, những nét vẽ mới của bạn sẽ hoà trộn với nó, nơi mà nó trong suốt, nét vẽ của bạn cũng sẽ trong suốt, nơi mà chúng hiển thị rõ ràng, những nét vẽ mới sẽ không xuất hiện. Bạn nên tự thực hành với những gì tôi nơi ở trên, vì chỉ đọc không thôi rất khó hình dung.

  • Clear chỉ hiển thị trên layer, nó không hiển thị trên Background. Nó cho phép bạn sử dụng công cụ Paint Bucket hoặc Line Tool để xoá từng đơn vị pixel trở thành trong suốt.

Cài đặt tuỳ biến Tolerance của Paint Bucket cũng giống như của công cụ Magic Wand và cho phép bạn kiểm soát sự tương đồng của màu mà bạn muốn thay thế khi bạn nhấp chuột bằng Paint Bucket. Anti-Alias làm mềm đường viền của vùng được tô màu.

Contents menu (PTS 5) hoặc Source menu (PTS6+) cho phép bạn chọn giữa màu nền trước và Pattern Fill. Trong PTS 6, khi bạn chọn một Pattern nó sẽ hiển thị như là một menu trên thanh Option Bar. Đánh dấu vào hộp kiểm Use All Layer cho phép bạn tô vào tất cả các layer.

Tuỳ biến Contiguous kiểm soát liệu vùng tô màu chỉ được áp dụng cho những vùng gần kê hay không. Khi bỏ dấu kiểm, vùng tô sẽ được áp dụng cho tất cả các khu vực của file ảnh có cùng mức độ với Tolerance mà bạn đặt từ trước. Khi có dấu kiểm, nó chỉ tô những pixel gần kề mà hợp với chế độ tolerance đã được cài đặt.

Lệnh Fill
Sau này bạn sẽ thấy rằng rất ít khi bạn dùng đến lệnh Fill cho nên tôi không đi quá sâu vào vấn đề. Tôi thường hay sử dụng lệnh Edit > Fill và lệnh gõ tắt Fill nền trước/ nền sau. Với lệnh fill bạn có thể chọn màu từ nền trước hoặc nền sau, pattern, đen, History, 50% xám và trắng. Bạn cũng có thể điều chỉnh tuỳ biến Opacity và Blend mode.

 

 2. Gradient, Pattern và Line:

Gradient Tool

Công cụ Gradient cho phép bạn hoà trộn một màu này với một màu khác. Gradient bị giới hạn bởi 2 màu, bạn có thể tạo ra Gradient riêng của mình bằng cách sử dụng kết hợp vài màu với sự đa dạng về độ trong suốt. Lệnh gõ tắt cho Gradient là G. Tất cả có 5 loại gradient: Linear, Radial, Angle, Reflected và Diamond.

There are five types of gradients: Linear, Radial, Angle, Reflected, and Diamond.


RadialLinearAngleReflectedDiamond

Tuỳ biến Gradient cho phép bạn chọn và chỉnh sửa Gradients. Tương tự như các công cụ khác, tuỳ biến của nó được hiển thị trên thanh Option bar trong PTS 6 hoặc nháy đúp và biểu tượng Gradient ở những version trước.

Hộp kiểm Transparency tạo cho Gradient khi tô là trong suốt. nếu không vùng trong suốt sẽ được tô với màu gần kề với nó.

Dither thêm một chút "cát bụi" để giảm thiểu các bước sóng khi được in ra.

Flip đổi ngược lại trật tự màu của gradient.

Các kiểu Gradient có thể được chọn từ menu hoặc trên Option bar. Trong PTS 6 bạn nhấp chuột vào biểu tượng xem trước Gradient trên option bar sẽ mở ra hộp thoại Gradient Editor.

Pattern Fills
Bạn có thể sử dụng Pattern như là vẽ và tô trong PTS. Pattern được lựa chọn từ Menu Pattern trên Option Bar. Để thêm pattern bạn chỉ việc mở một file ảnh và chọn Edit > Define > Pattern. Bạn cũng có thể sử dụng một phần của bức ảnh hay toàn bộ bức ảnh làm Pattern bằng cách tạo một vùng lựa chọn, rồi chọn Edit > Define pattern. Nhớ đặt tên cho Pattern của bạn.

Như đã nói từ trước, Pattern có thể được sử dụng như là lệnh fill bằng Paint Bucket và Edit > Fill. Bạn có thể vẽ Pattern bằng cách sử dụng công cụ Pattern Stamp . Pattern Stamp làm việc tương tự như công cụ Paintbrush, nhưng thay vì vẽ màu đặc, nó vẽ với pattern đang được chọn.

Line Tool
Được sử dụng để vẽ đường thẳng hoặc mũi tên.

Line tool cùng chung vị trí với Shape Tool. Trong Option Bar, bạn có thể chọn xem bạn sẽ vẽ một đường thẳng như là một Shape Layer, một đương thẳng hoặc một vùng được tô. Vì chúng ta chưa học đến Shape và đường thẳng, bạn có thể tạo đường thẳng như là một vùng được tô, và bạn cũng có thể tự khám phá Shape và Path nếu bạn là người thích tìm hiểu. Khi Line Tool được chọn trên option bar, bạn có thể nhấp vào mũi tên cạnh biểu tượng Shape để mở tuỳ biến hình học và bạn có thể ẩn hoặc hiện đầu mũi tên, đầu mũi tên quay sang phải hoặc trái và điều chỉnh độ dài, kích cỡ của mũi tên hoặc đầu mũi tên.


Trên đây là một vài ví dụ về các hình khác nhau của đầu mũi tên khi thay đổi With, Length và Concavity.

 3. Brushes

Brush Palette được gắn vào Option bar như menu thả xuống.
Photoshop 6 Brushes Palette

PTS có rất nhiều Brush tiêu chuẩn về kiểu dáng, độ nét và độ lớn của Brush. Bạn cũng có thể tạo Brush riêng cho bạn. Bạn có thể reset, lưu và load brush thông qua Brush Palette menu.

Brush editing options

Chúng ta sẽ thực hành với những Brush tự tạo ở phần sau của chương này. Bây giờ tôi sẽ giới thiệu cho bạn một số tính năng cơ bản của Brush Palette. Tất nhiên bạn có thể chọn một Brush bằng cách nhấn vào biểu tượng của nó trên Palette. Khi bạn đang vẽ, nó có thể sẽ rất lộn xộn nếu phải vào Brush Palette để điều chỉnh độ lơn hoặc hình dáng của Brush, cho nên có một vài lệnh gõ tắt mà bạn nên biết.

  • Nhấp chuột vào chế độ xem trước Brush trong Option Bar cho phép bạn thay đổi đường kính, độ nét, khoảng cách, góc và độ tròn.

  • Khi bạn điều chỉnh một brush bạn có thể nhấp chuột vào nút Preset để thêm nó vào Brush Palette. Bạn cũng có thể chọn New Brush từ menu thả xuống để tạo một Brush mới.

  • Để điều chỉnh kích thước của Brush từ menu thả xuống trong khi đang vẽ, sử dụng dấu ngoặc vuông []

  • Giữ phím Shift và nhấn dấu ngoặc vuông sẽ điều chỉnh độ nét của Brush.

Bạn có thể khám phá tuỳ biến của Brush. Bạn có thể quay lại chế độ mặc định của Brush bất cứ lúc nào bằng cách chọn nút Reset brush từ brush Palette menu

Fading Brush Strokes, Fills, và Filters

Tất cả những công cụ vẽ đều có khả năng Fade (nhạt dần) bằng cách sử dụng lệnh Fade. Bạn có thể chọn tuỳ biến này trong Edit menu. Sau khi áp dụng bất cứ Paintstroke, fill hoặc filter, bạn có thể chọn lệnh này để làm nhạt nơ lại để nó hoà trộn với file ảnh tốt hơn. Bạn có thể dùng nó để áp dụng Blend Mode nếu bạn quên cài đặt nó trước khi vẽ.

 4. Pencil, Paintbrush và Airbush:

Pencil Tool
Pencil cho phép bạn có một nét vẽ sắc nét. Lệnh gõ tắt của nó là N PTS 5 và B PTS 6. Shift-B thay đổi giữa Paintbrush và Pencil Tool.

Chú ý đên Brush Palette khi công cụ Pencil được kích hoạt. Tất cả những Brush sẽ là hình sắc cạnh. Chỉ có khoảng cách của Brush có thể được thay khi công cụ Pencil Tool kích hoạt.

Công cụ Pencil có một lựa chọs là Auto-Erase, nó cho phép bạn vẽ bằng màu của nền trước hoặc nền sau và ngược lại. Khi Auto-Erase được chọn thì khi bạn bắt đầu vẽ sẽ là màu của nền trước, nếu bạn chuyển lại vị trí của nền trước ra nền sau, nó sẽ vẽ với màu của nền sau.

Paintbrush Tool
Đây có lẽ sẽ là công vụ vẽ bạn sử dụng nhiều nhất. Lệnh gõ tắt là B. Paintbrush Tool vẽ màu lên tài liệu của bạn như một chiếc bút vẽ thường vẽ lên giấy. Chúng ta đã bàn đến Blend Mode và Opacity, nhưng nếu bạn nhìn vào tuỳ biến của Paintbrush bạn sẽ thấy có một số thứ chúng ta chưa nói đến.

comparing the airbrush, paintbrush, and wet edges brushWet Edge làm việc như là bạn vẽ bằng màu nước hoặc bằng bút dạ. Khi bạn vẽ bằng Soft Brush, nét vẽ sẽ nhạt ở giữa và đậm hơn ở đường biên. Với Hard Edge Brush và 100% Opacity, nét vẽ vẫn có một chút mờ nhạt giống như bút dạ hoặc bút vẽ màu nước. Khi bỏ hộp kiểm Wet Edge, một Brush với đường viền mềm 100% Opacity sẽ bị mờ dần vào giữa và phai màu ở hai cạnh. Hard Brush 100% opacity sẽ hoàn toàn mờ đục, nhưng không giống như Pencil Tool, đường biên sẽ mềm hơn và không bị zic zắc.

 

 

Comapring the brush fade optionsBạn sẽ nhận thấy tùy biến Fade trong Option Palette. Nếu bạn dùng PTS 6+, tuỳ biến Fade được đặt ở menu hiện ra tại tận cùng bên phải của Option Palette.

brush dynamics menu

Menu hiện ra này được gọi là Brush Dynamic Menu và có thể được sử dụng cho bất cứ công cụ nào yêu cầu vùng lựa chọn bằng Brush. Bạn có thể làm nhạt kích thước và màu của Brush Stroke. Phần còn lại bạn có thể tự tìm hiểu, bởi vì nó rất dễ hiểu và trực quan.

Airbrush Tool
Airbrush tool làm việc y như bình sơn xịt có nén khí gas. Lệnh gõ tắt của nó là J. Airbush vẽ những nét nhạt hơn công cụ Paintbrush, nhưng nếu bạn giữ chuột ở nguyên một vị trí, nó cũng có hiệu ứng y như bạn dùng sơn xịt. Bạn có thể điều chỉnh mức Opacity của Paintbrush và Pressure. Pressure càng cao thì nét vẽ càng đậm. Airbush là công cụ khá quan trọng khi bạn muốn tạo bóng cho hình hoặc làm nổi bật một điểm nào đó. Với menu thiết lập Pressure, bạn thật sự có thể điều khiển Airbrush một cách hoàn hảo.

Một vài mẹo nhỏ khi Painting:
Bất cứ khi nào bạn đang sử dụng công cụ Painting, bạn có thể nhấn phím Alt để tạm thời chuyển qua công cụ Eyedropper và lấy một màu mới cho nền trước từ bất cứ chỗ nào trên file ảnh.

Bạn có thể điều chỉnh Pressure của công cụ Airbrush hoặc Opacity của những công cụ khác bằng cách nhấn những giá trị số trên bàn phím mà không phải vào Option.

Khi công cụ Painting được chọn bạn có thể di chuyển trong menu Blend Mode bằng cách sử dụng Shift+- (dấu trừ) và Shift++ (dấu cộng). Những lệnh gõ tắt này cũng có thể dùng để di chuyển trong layer blend mode khi không công cụ vẽ nào được chọn. Tôi không biết bạn có tài nhớ hay không? nhưng tôi thì chẳng bao giờ nhớ được Blend Mode tôi cần, cho nên những lệnh gõ tắt này rất tiện lợi vị nó cho tôi di chuyển trong menu Blend Mode.

 5. Eraser Tool - Tẩy:

Từ PTS phiên bản 5.5 trở lên, có thêm hai loại Eraser Tool nữa là: Background Eraser và Magic Eraser.

Lệnh gõ tắt của công cụ Eraser là E. Công cụ Eraser tiêu chuẩn có 4 chế độ Painting để chọn: Paintbrush, Airbrush, pencil và Block. Nó làm việc với  nguyên lý ngược lại với công cụ vẽ, trừ công cụ Block Tool, mà có thể bạn đã đoán ra, là một hình vuông đơn giản. Điều khác biệt là, thay vì vẽ màu của nền trước vào tài liệu, công cụ Eraser tool vẽ những đường trong suốt... Trừ phi layer của bạn là Background, trong trường hợp này, Eraser tool sẽ vẽ với màu của nền sau.

Tuỳ biến của Eraser Tool về cơ bản giống như công cụ Painting tool, chỉ có một tính năng thêm nữa là: Erase to history. Khi bạn dùng Erase to History, nó làm việc giống như công cụ History Brush. Thay vì vẽ với màu của nền sau hay trong suốt, bạn vẽ với trạng thái hiện hành trong History Palette. Bạn có thể tạm thời chuyển qua chế độ Erase to History bằng cách nhấn Alt khi công cụ Eraser đang được chọn.

The Magic Eraser
Magic Eraser Làm việc giống như Magic Want, nhưng thay vì tạo vùng lựa chọn, nó ngay lập tức biến những đơn vị pixel thành trong suốt. Nó cũng rất giống với công cụ Paint Bucket trong chế độ Clear mode. Vùng được tẩy sẽ bị kiểm soát bởi điều chỉnh tuỳ biến Tolerance và Contiguous . Nhấp chuột một lần xoá hết những pixel nằm trong phạm vi của Tolerance. Nếu công cụ Magic Eraser được dùng ở Background layer, Background layer sẽ được nâng lên thành Layer.

Công cụ này là sự lựa chọn tốt nhất khi bạn có một background là một màu duy nhất hoặc gần như giống nhau. Chỉ bằng một cú nhấp với công cụ Magic Eraser và Background của bạn sẽ biến mất! Opps! Nhưng nói chung, bạn nên thực hành một chút với việc cài đặt mức Tolerance cho đến khi bạn thành thục với nó.

Background Eraser
Background eraser cũng có thể xoá đến trong suốt, nhưng thay vì sử dụng chỉ duy nhất phạm vi Tolerance, nó tiếp tục xoá màu nền trong tài liệu của bạn khi bạn tẩy.

Để sử dụng công cụ Eraser bạn đặt con trỏ qua vùng màu mà bạn muốn tẩy, giữ im hoặc click chuột để xoá đi backgroun, hoặc từ từ kéo dọc theo đường biên của vật mà bạn muốn cô lập.

Điều quan trọng nhất mà bạn nên nhớ với công cụ Eraser là bạn phải rất cẩn thận giữ tiêu cự của Eraser Tool ra khỏi hình mà bạn muốn giữ. Khi sử dụng công cụ này, bạn có thể nhận ra rằng một vài chỗ hình trong nền trước trở nên trong suốt dọc theo đường biên. Bạn không cần phải quá quan tâm đến nó, vì bạn lúc nào cũng có thể vẽ lại nó bằng công cụ Erase to History hoặc History Brush.

Background Eraser là một công cụ tuyệt vời để nhanh chóng tách hình ra khỏi nền, nhưng nó cũng để những pixel mờ mờ trên Background. Bạn sẽ cần phải tạo một nền background trắng sau vật mà mình muốn tách và dùng một vài cách để dọn dẹp trước khi sử dụng công cụ này.

Bây giờ bạn đã sẵn sàng cho các bài thực hành chưa? Trong chương tới bạn sẽ thực hành với 5 bài tập, mỗi bài củng cố cho một công cụ kết hợp với rất nhiều điểm mà chúng ta đã học. Trước khi bạn bắt đầu, hãy download và giải nén file này, nó chứa tất cả các file cần thiết để thực hành.

 6. Thực hành với các công cụ đã học:

Bài 1.

Mở file lession1e7.psd. Chungsta sẽ tô màu cho nó và áp dụng một vài layer Effect để được một hình như hình dưới.

Việc đầu tiên chúng ta làm là đổi layer Background thành layer (nhấp đúp vào nó)  đặt tên cho nó là lines, do vậy chúng ta có thể giữ những đường thẳng riêng biệt khỏi màu được tô. Đặt chế độ Blend Mode là Multiply, mục đích của việc này là cho phép những layer ở dưới có thể được nhìn qua vùng trắng của layer Lines. Bằng cách sử dụng Multiply Blend Mode, chúng ta không cần phải lo lắng về việc không may xoá mất vùng trắng.

Thêm một layer mới và kéo nó xuống dưới layer Lines. Đặt tên nó là Sea

Chọn Paint Bucket và đặt tuỳ chọn là "Use all Layers". Nó sẽ cho phép bạn lấy mẫu từ Lines Layer, nhưng vẽ lên trên Sea Layer. Bạn phải đánh dấu vào hộp kiểm Contiguous và Sea layer là layer được kích hoạt để vẽ.

Hiển thị Swatches Palette và bắt đầu tô vùng nền của hình con cá heo với nhiều màu xanh và xanh lá cây.

Hãy nhớ bạn có thể nhấn phím Alt để lấy màu từ file ảnh.

Khi bạn tô màu xong cho layer Sea, tạo thêm một layer mới, đặt tên nó là Dolphins và kéo nó xuống dưới layer Lines.

Tô màu cho con cá heo với một số gam màu xám khác nhau. Bạn có thể Zoom vào để tô cho những chi tiết nhỏ.

Khi bạn đã hoàn thành việc tô, đổi sang Pencil Tool và sử dụng luân phiên Pencil Tool và Eyedropper để tô lại những chi tiết nào còn thiếu.

Bây giờ chúng ta tạo cho bức tranh thêm chút hiệu ứng 3D bằng cách áp dụng layer style. Tôi sử dụng những giá trị Inner Bevel khác nhau cho mỗi layer. Cứ thực hành với Layer Style cho đến khi bạn có được điều bạn muốn.

Bây giờ chúng ta thêm kết cấu nước cho Sea Layer

Dùng Pattern Overlay trong layer Style và đặt pattern là "Satin" sau đó đổi Blend Mode thành Soft Light. Bạn có thể giảm mức Opacity xuống và chỉnh lại tỉ lệ của Pattern cho nó nhỏ hơn.

Nếu bạn vướng mắc ở chỗ nào, bạn có thể mở file Zip ra và xem cách tôi làm.

Bài 2.
Trong bài này chúng ta sẽ sử dụng công cụ Erase to History để vẽ một màu được chọn trở lại hình mà đã bị Desaturated. Dĩ nhiên, cách này chỉ có thể áp dụng với một file ảnh màu. Bài tới chúng ta sẽ học cách thêm màu vào một bức ảnh trắng đen.

1. Mở một file ảnh như trên.
2. Image > Adjust > Desaturated. Nó sẽ xoá hết màu của ảnh mà không thay đổi chế độ màu sắc của file ảnh.
3. Chọn Eraser Tool và đánh dấu vào hộp kiểm Erase to History trong Option Bar.
4. Chọn Brush và bắt đầu vẽ từ tâm của quả dâu tây.
5. Khi bạn tô đến đường biên, sử dụng những lệnh gõ tắt mà bạn đã học để thay đổi kích thước của Brush và độ nét. ( Dùng dấu ngoặc vuông), bạn thấy tiện ích của lệnh gõ tắt chưa? vì bạn không phải thay đổi thường xuyên brush bằng cách dùng Brush Palette.

Nếu chẳng may bạn vẽ màu ra ngoài những chỗ mà bạn không muốn. Đổi sang công cụ Paintbrush Tool, đổi màu vẽ sang bất cứ màu xám nào và đổi chế độ Paint thành Saturation. Khi bạn vẽ với màu xám trong chế độ Saturation, nó sẽ Desaturate file ảnh của bạn.

Nếu bạn sử dụng layer chắc chắn sẽ giúp bạn thao tác dễ hơn nhiều, nhưng đó là cái hay của PTS vì bạn có thể có rất nhiều lựa chọn để thao tác, và mỗi cái có một ưu khuyết điểm khác nhau.

Bài 3.

Bạn đã học cách xoá màu từ một bức hình màu và tô màu lại vào một vùng lựa chọn, bây giờ hãy làm lại điều ngược lại. Tôi chọn một hình đơn giản để thực tập, nhưng nếu bạn muốn chọn hình khác thì bạn nên nhớ Color Mode phải được chuyển thành RGB trước khi bắt đầu. Image > Mode > RGB

1. Chọn Paintbrush Tool. Đặt chế độ màu và Opacity xuống khá thấp khoảng 20-40%.
2. Cách tô màu như thế này là tốt nhất khi file ảnh đòi hỏi phải rất tỉ mỉ. Giữ mức Opacity thấp thì tốt, nhưng bạn nên cẩn thận không nên chọn những màu sáng, và có độ đậm cao. Khi bạn lấy màu nền trước, chú ý đến giá trị S và B trong phần HSB và đừng lấy màu có độ đậm và sáng hơn 80%.

Khi bạn sử dụng mức Opacity thấp, nhớ rằng nét vẽ sẽ được thiết lập bất cứ khi nào bạn nhấc chuột và bắt đầu một nét vẽ mới. Sẽ tốt hơn nếu bạn bắt đầu tô bằng một màu nhạt mà không nhấc chuột lên, và tô tiếp những mầu đậm hơn nếu cần.

Thực hành với những màu và độ Opacity khác nhau để hoà trộn màu sắc.

Đừng lo lắng khi bạn vẽ ra ngoài đường biên, vì bạn có thể sử dụng Erase to History để vẽ lại màu đó.

Bài 4

Công cụ Airbrush rất thường được sử dụng để thêm hiệu ứng 3D để làm nổi hình và đổ bóng. Thực hành sử dụng Airbrush với màu đen và trắng để thêm chiều sâu cho hình trái tim. Mục đích của bạn là tạo ra một hình tương tự như ví dụ ở dưới. Bạn có thể sử dụng Layer Style để có hiệu ứng Drop Shadow, nhưng tôi chỉ muốn bạn sử dụng công cụ Airbrush để tạo bóng cho hình.

Mở file lessson7e6.psd ra để bạn thực tập, tôi sẽ không chỉ từng bước một nữa. Bạn thử nhé! nhưng tôi cho bạn một số mẹo để bạn làm dễ hơn.

  1. Làm việc với các layer khác nhau

  2. Nhóm layer Highlight và layer Shadow với layer trái tim cho nên bạn sẽ không vẽ ra ngoài hình trái tim.

  3. Chú ý trong ví dụ của tôi vùng bóng đen bao quanh toàn bộ đường viền, nhưng đường Highlight màu trắng thì khong.

  4. Bạn sẽ khó khăn nếu bạn không sử dụng hộp kiểm pressure! vậy hãy sử dụng nó để giúp bạn.

Bài 5
Trong bài học này bạn sẽ học cách tạo riêng cho bạn một Brush.

  1. Mở một tài liệu mới với Transparent Background. 200x200 pixel.

  2. Vào Brush menu và chọn New brush.

  3. Đặt cho New Brush của bạn có đường kính là 80, Hardeness 0, Spacing 25, angle 45, roundness 10.

  4. Brush mới của bạn sẽ xuất hiện ở dưới cùng Brush Palette.

  5. Chọn New Brush lần nữa và để nguyên mọi thứ, nhưng thay đổi angle thành 135

  6. Lập lại lần nữa nhưng lần này Diameter là 60 và angle là 90

  7. Lập lại thêm một lần nữa, giữ nguyên mọi thứ nhưng đổi angle thành 0.

  8. Ở tài liệu của bạn kéo 2 đường guidelines để đánh dấu tâm. (chọn công cụ Move tool, đưa con trỏ ra sát biên của cửa sổ tài liệu và kéo, một đường màu xanh sẽ xuất hiện. Đường này không phải là đường vẽ mà chỉ là đường để giúp bạn định vị tâm dễ dàng hơn)

  9. Đổi màu nền trước thành đen.

Để tạo ra hình "nhấp nháy" như trong hình, chúng ta cần căn chỉnh tất cả Brush chính xác vào tâm. Để làm được điều này chúng ta cần con trỏ phải hết sức chính xác. Nên bạn hãy nhấn phím Capslock để Brush biến thành tiêu cự, tạo cho việc vẽ dễ dàng hơn nhiều. Khi bạn nhấn phím Capslock, Brush sẽ biến thành một tiêu cự rất nhỏ.

Sử dụng mỗi Brush mà bạn vừa tạo một lần, hãy nhìn hình minh hoạ và vẽ. Bây giơ chúng ta đã có hình "nhấp nháy", nếu bạn muốn chúng ta sẽ lưu nó lại thành một brush tên là "nhấp nháy". Muốn lưu nó lại bạn hãy tạo một vùng lựa chọn bao quanh nó. Rồi vào Edit > Define Brush. Brush mới sẽ được thêm vào menu, bây giờ bạn chỉ cần chọn nó sẽ có một hình "nhấp nháy" tuyệt đẹp.

Nhân đôi tài liệu của bạn và điều chỉnh lại tỉ lệ của Brush với những kích cỡ khác nhau, bạn có thể Define từng kích cỡ khác nhau của từng brush.

Bạn hãy dùng brush tròn mặc định của PTS với mức Opacity là 80% và click một lần vào giữa của hình "nhấp nháy" vừa tạo. Define nó thành một brush mới và lập lại với nhiều kíck thước khác nhau.

Bạn có thể thử nghiệm với nhiều loại brush với những tuỳ biến size, harrdness, angle và roundness để tạo ra những brush khác nhau.

Cuối cùng, nếu bạn thích những hình đó bạn có thể dùng nó để tạo những Texture riêng cho mình. Bạn cũng đừng lo lắng khi tôi nói bạn lưu hết brush này đến brush khác. Vì nếu bạn muốn xoá hết nó, thì bạn chỉ việc chọn Preset brush là xong.


Nhắn tin cho tác giả
Đỗ Đức Thiệu @ 09:18 05/05/2012
Số lượt xem: 1115
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến